Make your own free website on Tripod.com

Nhị thập tứ hiếu


Tôi dùng quyển "Nhị thập tứ hiếu" của nhà xuất-bản Tân-Việt (sáng lập năm 1937), tại 20 Amiral Courbet, Sai-gòn. Sách này do Chu-Lang Cao-Huy-Giu đính-chính và chú-thích. Theo như nhà xuất-bản thì sách được in theo giấy phép số 134/T.X.B bộ Thông-tin Nam-Việt).

Tiểu-sử cụ Lý Văn Phức


Cụ Lý văn Phức tự là Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, người làng Hồ-khẩu, hiệu Vĩnh-Thuận, tỉnh Hà-nội ngày xưa, thuộc Đại-lý Hoàn-long, ngoại thành Hà-nội.
Cụ là bậc túc nho, văn-học uyên-bác, đỗ cử-nhân khoa kỷ-mão triều Gia-long thứ 18 (1819) , làm quan luôn ba triều : Minh-mệnh, Thiệu-trị và Tự-đức
Khoảng năm Tân-sửu, Thiệu-trị nguyên niên (1841), sung chức chánh-sứ sang Tàu và nhiều lần được cử đi phái-bộ các nước lân-cận với nước ta. Mỗi lần đi đâu về, cụ đều có soạn thành bút ký hay thi-tập.
Năm Canh-dần, Minh-mệnh thứ 11 (1830), đi phái bộ Tiểu tây Dương, cụ soạn tập "Tây hành kiến văn lục hay Kỷ-lược.
Hai năm Quý-tỵ và Giáp-ngọ, Minh-mệnh thứ 14, 15 đi phái-bộ Tân-gia-Ba (Singapour); Lữ-tống (Lucon) Quảng-đông, cụ soạn 2 tập "Việt-hành ngâm hoặc Thi-thảo" và "Việt-hành tục ngâm". Khi đi Á0-môn (Macao), cụ soạn tập "Kinh hải tục ngâm"
Ngoài ra cụ còn có mấy bộ bằng quốc âm: "Phụ châm tiện lãm", "Tự thuật ký", "Bất phong lưu truyện", "Sứ trình tiện lãm khúc" và bản "Nhị-thập-tứ hiếu" này.
Lược truyện 24 hiếu-tử
1.- Ngu Thuấn
Vua Thuấn họ Diêu, tên hiệu là Thuấn, quốc hiệu là Đại-Ngu, cha là Cổ Tẩu, (có mắt cũng như mù, vì không biết kẻ hay người dở, người đời bấy giờ mới tặng cho tên là Cổ Tẩu ), mẹ đẻ mất sớm, mẹ kế là người ương gàn, em (cùng cha khác mẹ) là Tượng tính lại hỗn-xược, cha và mẹ kế cùng em ngày ngày chỉ kiếm cách để giết ngài đi; nhưng ngài vẫn một lòng trên hiếu với cha mẹ, dưới hòa cùng em, lòng hiếu cảm động đến trời, như khi cha ngài bắt ngài cày ruộng một mình ở núi Lịch-sơn, thì voi về cày ruộng, chim về nhặt cỏ. Khi sai ngài dánh cá ở hồ Lôi-trạch thì gió lặng sóng yên .Vua Nghiêu nghe tiếng, gọi gả 2 con gái cho ngài và truyền ngôi cho ngài. Khi ngài làm vua, trong 18 năm chỉ ngồi gảy đàn, hát khúc Nam-phong mà thiên-hạ rất thái-bình thịnh-trị .
Thơ
Đội đội canh điền tượng,
Phân phân vân thảo cầm.
Phụ Nghiêu đăng báo vị,
Hiếu cảm-động thiên-tâm.
Giải nghĩa đen
Hàng đàn voi về cày ruộng,
Hàng bày chim đến nhặt cỏ
Giúp vua Nghiêu lên ngôi báu,
Lòng hiếu-thảo động đến trời.
Dịch nôm
Voi về cày ruộng hàng bày,
Chim về nhặt cỏ hàng ngàn không ngơi.
Giúp vua Nghiêu, nối ngôi trời,
Cho hay hiếu cảm-động vời cao xanh.

2.- Văn-đế
Vua Văn-đế nhà Hán, tên là Hằng, con thứ vua Hán Cao-tổ, em vua Huệ-đế, mẹ là Bạc-hậu (vợ lẽ vua Hán Cao-tổ), trước phong là Đại-vương, tức là thân-vương ở đất Đại bên ngoài, tính rất hiếu, sau Huệ-đế chết không có con nối nghiệp, các quan trong triều đón ngài về làm vua. Khi ngái đã làm vua rồi, Bạc-hậu bị ốm trong 3 năm trời, ngài lúc nào cũng đóng mũ-áo đai-cân đứng hầu mẹ, thức suốt đêm không dám ngủ, thuốc thang dâng đến, ngài tự nếm trước rồi mới dâng cho mẹ xơi, vì sợ có thuốc độc. Dân-gian thấy ngài hiếu-thảo như thế, ai cũng bắt-chước, mọi người đều hiếu-thảo cả, thiên-hạ rất thịnh-trị, không kém gì đời tam-đại ( nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu ) ngày xưa.
Thơ
Nhân-hiếu lâm thiên-hạ,
Nguy nguy quán bách vương,
Hán-dình sự hiền-mẫu,
Thang được tất tiên thường.
Giải nghĩa đen
Lấy đạo nhân-hiếu dạy-bảo thiên-hạ,
Công cao hơn cả trăm vua khác,
Phụng-dưỡng mẹ hiền ở công-dình nhà Hán,
Thuốc-thang phải tự nếm trước.
Dịch nôm
Đem lòng nhân-hiếu dạy dân,
So trăm vua khác có phần lại hơn,
Khi hầu mẹ ốm thuốc-thang,
Tự mình nếm trước, dưới màn mới dâng

3.- Tăng-tử
Tăng-tử tên là Sâm, tự là Tử Dư, người ấp Vũ-thành nước Lỗ, sinh vào thời Xuân-thu, là học-trò vào bậc giỏi của đức Khổng-tử, sau được liệt vào bậc tứ-phối (bốn ông phối hưởng với đức Khổng-tử). Ông thờ cha mẹ rất hiếu, bữa ăn nào cũng có rượu thịt. Khi cha mẹ ăn xong, còn thừa lại món ăn, ông hỏi cha mẹ bảo để cho ai, thì ông vâng theo lời mà cho người ấy. Một hôm ông đi vào rừng kiếm củi vắng, ở nhà có khách đến chơi, mẹ ông không biết làm thế nào cho ông về ngay, bèn cắn ngón tay mình, để cho động lòng con, quả-nhiên ông ở trong rừng thấy quặn đau trong dạ, ông vội gánh củi về ngay.
Thơ
Mẫu chỉ tài phương khiết,
Nhi tâm thống bất căm,
Phụ tận quy vị vãn,
Cốt-nhục chí tình thâm.
Giải nghĩa đen
Mẹ vừa cắn ngón tay,
Con thấy đau trong dạ,
Vội vàng đội củi về,
Tình cốt-nhục cảm-ứng chóng như thế.
Dịch nôm
Mong con vừa cắn ngón tay,
Trong rừng con bỗng dạ này quặn đau.
Vội-vàng đội củi về mau,
Cho hay cốt-nhục tình sâu lạ nhường.

4.- Mẫn Tử-Khiên
Tên chữ là Tổn, sinh vào đời Xuân-thu, học-trò đức Khổng-tử, mẹ ông mất sớm, cha ông lấy người vợ sau (tức là mẹ kế) sinh được 2 con. Mẹ kế đối với ông rất cay nghiệt, nhưng ông vẫ thờ cha và thờ mẹ kế rất hiếu . Mùa rét, mẹ kế cho hai con mình mặc áo bông dày, cho ông mặc áo bằng hoa lau, chứ không có bông. Ông tuy thấy không đủ ấm, nhưng kgông hề nói gì. Một hôm ông đẩy xe cho cha đi chơi, vì rét quá cóng tay, rời tay xe ra. Cha ông suy-xét mãi mới biết là ông bị mẹ kế để cho mặc rét, cha ông tức lắm định đuổi ngay người vợ kế đi, ông khóc và cố kêu van với cha, xin đừng đuổi mẹ kế, vì rằng: có mẹ kế thì chỉ một mình ông bị rét thôi, nếu đuổi mẹ kế đi thì cả ba anh em ông cùng phải khổ-sở cả. Cha ông nghe lời ông không bỏ người vợ kế nữa. Người mẹ kế nghe biết chuyện, về sau đối-đãi với ông rất tốt, thành ra một người mẹ hiền.
Thơ
Mẫn thị hữu hiền lang,
Hà tằng óan vãn nương,
Đường tiền lưu mẫu tại,
Tam tử miễ phong sương.
Giải nghĩa đen
Nhà họ Mẫn có người con hiền,
Không bao giờ oán-trách mẹ sau,
Trước mặt bố xin cho mẹ sau ở lại,
Để ba con khỏi phải khổ sở.
Dịch nôm
Tử-Khiên hiếu-thảo tình sâu,
Không hề oán trách mẹ sau nồng-nàn.
Xin cha chớ dứt dây loan,
Cho con khỏi phải cơ-hàn cả ba.

5.- Tử Lộ
Tử Lộ tên là Trọng Do, người ấp Biện, nước Lỗ, sinh vào đời Xuân-thu, là học-trò đức Khổng-tử. Thờ cha mẹ rất hiếu, nhà nghèo, thường phải đi đội gạo đường xa trăm dặm về nuôi cha mẹ; bữa ăn không có thức ăn, phải ra vườn hái rau dền rau muống về nấu canh cho cha mẹ ăn. Sau cha mẹ ông chết cả, ông mới đi sang nước Sở, được vua nước Sở dùng, cho làm quan sang, bổng-lộc nhiều. Nghĩ đến công cha mẹ, ông lấy làm đau tủi, muốn lại được đi đội gạo và nấu canh rau để phụng-dưỡng cha mẹ, thì không được nữa.
Thơ
Phụ mễ cung cam chỉ,
Ninh từ bách lý lao,
Thân hoàn thân dĩ một,
Do niệm cựu cù-lao.
Giải nghĩa đen
Đội gạo để cung-cấp cha mẹ miếng ngọt miếng bùi,
Không nề-hà đường xa trăm dặm,
Đến lúc được sung-sướng thì cha mẹ chết rồi,
Vẫn nhớ đến công khó nhọc của cha mẹ.
Dịch nôm
Dốc lòng phụng-dưỡng mẹ cha,
Đường đi đội gạo dù xa cũng gần.
Đến khi nhẹ bước thanh-vân,
Muốn mong báo-đáp, hai thân đâu còn ?

6.- Diễm tử
Diễm tử sinh vào đời nhà Chu, thờ cha mẹ rất hiếu; cha mẹ tuổi già, mắt lòa, thèm uống sữa hươu, Diễm tử lấy da hươu khô là áo mặc, giả làm hươu con, vào rừng lân-la đến gần những con hươu mẹ để vắt lấy sữa. Một hôm gặp bọn người đi săn, tưởng là hươu con, dương cung toan bắn, Diễm tử vội bỏ lốt hươu con ra và bày-tỏ cho người đi săn biết, người ấy mới thôi không bắn nữa.
Thơ
Thân lão tư lộc nhũ,
Thân phi lộc bì y,
Nhược bất cao thanh ngữ,
Sơn trung đới tiến quy.
Giải nghĩa đen
Cha mẹ già thèm uống sữa hươu,
Mình mặc áo da hươu,
Nếu không vội kêu to lên,
Thì bị trúng phải tên bắn ở trong núi.
Dịch nôm
Sữa hươu tuổi-tác ước-ao,
Da hươu đội lốt lần vào rừng xanh.
Gặp người nếu chẳng kêu nhanh,
Ắt là gặp sự chẳng lành xảy ra.

7.- Lão Lai-tử
Lão Lai-tử người nước Sở, sinh vào đời Xuân-thu, đã 70 tuổi hãy còn cha mẹ > Ông thờ cha mẹ rất hiếu. Không muốn để cho cha mẹ thấy ông đã già mà lo-buồn, ông thường mặc áo sặc-sỡ, nhởn-nhơ múa hát trước mặt cha mẹ, lại có khi ông bưng nước hầu cha mẹ, ông giả cách ngã, rồi khóc oa oa, làm như đứa trẻ lên 7 lên 3 vậy. Ý ông là cốt để làm cho cha mẹ lúc nào cũng vui-vẻ trong lòng.
Thơ
Hý vũ học kiều sy,
Xuân phong động thái y,
Song thân khai khẩu tiếu,
Hỷ sắc mã đình-vi.
Giải nghĩa đen
Chơi đùa như thể trẻ em,
Gió xuân lay động áo hoa sặc-sỡ,
Hai cha mẹ cùng mở miệng cười,
Cảnh vui đầy cả cửa nhà.
Dịch nôm
Chơi đùa học lối trẻ-thơ,
Thấp cao điệu múa, phất-phơ áo mùi,
Hai thân cùng nở nụ cười
Gió xuân đầm-ấm, cảnh vui đầy nhà.

8.- Đổng Vĩnh
Đổng Vĩnh sinh vào đời Hậu-Hán, nhà nghèo, tính rất hiếu, cha chết không có tiền chôn cất, phải đến một nhà giàu ở làng khác, vay tiền công dệt non, hẹn sau sẽ dệt trả 300 tấm lụa. Khi vay được tiền về chôn cất cha xong rồi, định đi đến nhà giàu đẻ dệt trả lụa, đi được nửa đường, thì gặp một người con gái xin kết làm vợ chồng, nhưng giao hẹn hãy cùng đi đến nhà giàu kia dệt lụa trả nợ đã, rồi mới về ăn-ở cùng nhau. Khi đã dệt đủ 300 tấm lụa, trả nợ xong rồi, hai người cùng về, đến chỗ gặp nhau khi trước, thì người con gái ấy biến mất . Vì Đổng Vĩnh có lòng hiếu-thảo cảm động đến trời. nên Trời sai tiên-nữ xuống giúp.
Thơ
Táng phụ thải khổng phương,
Tiên-cô lộ thượng phùng,
Chức khiêm thường trái chủ,
Hiếu cảm-động phương-khung .
Giải nghĩa đen
Vay tiền để chôn cất cha,
Giữa đường gặp nàng tiên,
Dệt lụa trả chủ nợ,
Lòng hiếu cảm-động đến trời.
Dịch nôm
Vay tiền lo-liệu tang cha,
Giũa đường gặp ả tiên-nga giúp cùng,
Dệt lụa đủ, trả nợ xong,
Cho hay hiếu-thảo động lòng trời xanh .

9.- Quách Cự
Quách Cự sinh vào đời nhà Hán, cửa nhà sa-sút, thờ mẹ rất hiếu. Hai vợ chồng mới sinh được một đứa con lên 3 tuổi, ông thường thấy bữa ăn mẹ ông không dám ăn no, cứ bớt lại để phần cho con mình ăn, vợ chồng bàn nhau rằng : vợ chồng mình đương-thì sinh-đẻ, mẹ già chỉ có một lần, đã chẳng phụng-dưỡng mẹ được sung-túc, lại để cho con mình xẻ ngọt chia bùi của mẹ, thì không phải đạo .Bèn bàn nhau đào hố đem chôn đứa con đi; vợ cũng nghe theo lời ông. Khi đào hố mới được đâu độ 3 thước, thì thấy có một hũ vàng, trên có chữ đề là; "hiếu-tử Quách Cự, hoàng kim nhất hũ, dụng dĩ tứ nhữ " Nghia là; "người con hiếu là Quách Cự, một hũ vàng đây để cho mày ". Hai vợ chồng lại đem con về.
Thơ
Quách Cự tư cung cấp,
Mai nhi nguyện mẫu tồn.
Hoàng kim thiên sở tứ,
Quang thái chiếu hàn-môn.
Giải nghĩa đen
Quách Cự chỉ nghĩ việc phụng-dưỡng mẹ,
Chôn con đi mong cho mẹ sống,
Trời cho được hũ vàng.
Đương nghèo được nên giàu có.
Dịch nôm
Nhà nghèo hiếu-thảo dốc lòng,
Chôn con nuôi mẹ vợ chồng bàn nhau.
Hũ vàng dành dưới hố sâu,
Trời cho phút chốc nên giàu lạ thay.

10.- Khương Thi
Khương Thi sinh vào đời nhà Hán, vợ là Bàng-thị; hai vợ chồng đều hiếu-thảo cả. Mẹ chồng muốn uống nước sông, Bàng thị hàng ngày đi gánh nước ở sông xa về. Trời rét, mẹ muốn ăn gỏi cá tươi, vợ chồng cố đi tìm kiếm cho được đủ thứ đem về. Lại sợ mẹ có một mình buồn, thường thường mời các bà già ở hàng xóm sang chơi với mẹ cho vui. Sau tự nhiên ở bên cạnh nhà có suối nước ngọt chảy ra, đúng như vị nước sông và ở suối ấy hàng ngày lại có hai con cá chép, đủ dùng là gỏi ghém. Từ đấy vợ chồng không phải đi quảy nước sông và đi kiếm cá nữa.
Thơ
Á trắc cam-tuyền xuất,
Thất triêu song lý-ngư,
Tử năng tri sự mẫu,
Phụ cánh hiếu ư cô.
Giải nghĩa đen
Bên nhà có suối nước ngọt chảy ra,
Mỗi ngày có hai con cá chép,
Con trai đã biết đạo thờ mẹ,
Nàng dâu lại hiếu với mẹ chồng.
Dịch nôm
Bỗng đâu suối chảy bên nhà,
Ngày đôi cá chép nhảy ra lệ thường.
Chồng mà lấy hiếu làm cương,
Ắt là vợ phải noi gương theo chồng.

11.- Thái Thuận

Thái-Thuận sinh vào đời nhà Hán, nhà nghèo, mồ côi cha từ thủa bé, thờ mẹ rất có hiếu. Bị năm loạn lạc kém đói, phải đi vào rừng tìm kiếm những quả dâu chín đem về ăn cho đỡ đói. Tìm được quả nào chín đem để ra một bên. Gặp người tướng giặc Xích-my đi qua, trông thấy hỏi: "Vì cớ gì để làm hai nơi như thế ?" Ông trả lời: "Quả nào chín đen thì ngọt, để riêng để biếu mẹ tôi, còn quả nào đỏ thì chua, để riêng tôi ăn." Người tương giặc khen là có hiếu, bèn truyền quân lấy ra một thúng gạo và một cái đùi trâu để tặng ông.
Thơ
Hắc thầm phụng huyên vy,
Đề cơ lệ mãn y,
Xích-My tri hiếu thuận,
Đẩu mễ tặng quân quy.
Giải nghĩa đen
Quả dâu chín đen để biếu mẹ,
Bụng đói nước mắt chảy thấm cả áo.
Giặc Xích-my biết là người có hiếu,
Tặng cho thúng gạo mang về.
Dịch nôm
Quả dâu đen, dành mẹ xơi,
Lòng cam chịu đói, lệ rơi thấm bào,
Xích-my giặc ấy cũng hào,
Tặng cho gạo trắng một bao đem về.

12.- Đinh Lan
Đinh Lan sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha mẹ từ lúc bé, đến khi lớn lên, nhớ ơn cha mẹ thuê thợ tạc tượng cha mẹ bằng gỗ để phụng-thờ, ngày thì dâng hai bữa cơm, tối thì sửa-soạn chăn-gối, hầu-hạ chăm nom như lúc cha mẹ còn sống vậy .Phụng-thờ như thế hằng mấy mươi năm, sau người vợ ông sinh ra nản lòng, có một hôm người vợ lấy kim châm vào kẽ tay tượng gỗ, tức thì có máu tươi chảy ra. Đến bữa cơm, ông bưng cơm vào cúng, thấy tượng gỗ rớm-rớm nước mắt, ông xét kỹ mới biết là vì vợ ông châm kim vào tay tượng gỗ, ông tức thì đuổi bỏ ngay người vợ ấy đi.
Thơ
Khắc mộc vi phụ mẫu,
Hình dưng tại nhật thần,
Ký ngôn chư tứ điệt,
Các yếu hiếu song thân.
Giải nghĩa đen
Tạc gỗ làm tượng cha mẹ,
Thờ-phượng giống như lúc còn sống.
Nhắn bảo các con cháu,
Ai ai cũng nên hiếu với cha mẹ cả.
Dịch nôm
Tạc hình cha mẹ như y,
Đem ngày thờ-phụng tựa khi sinh thời,
Nhắn khuyên con trẻ mấy lời,
Làm con phải hiếu, ai ơi ghi lòng .

13.- Lục Tích
Lục Tích sinh vào đời Đông-Hán, mới lên 6 tuổi, đã biết hiếu-thảo. Có một hôm theo cha sang quận Cửu-giang với Viên Thuật; Thuật làm tiệc thết đãi. Tích thấy trong tiệc có quít ngon, bèn lấy giấu 2 quả bỏ vào tay áo, khi ra về cúi chào Viên Thuật không may quít ở trong tay áo rơi ra, Thuật nói đùa: "Sao lấy quít giấu như thế ? Tích trả lời: "Vì mẹ tôi thích ăn quít, nhân thấy quít ngon, giấu đi vài quả đem về biếu mẹ tôi". Thuật khen là người có hiếu.
Thơ
Hiếu đễ giai thiên tính,
Nhân-gian lục tuế nhi,
Tụ trung hoài lục quất,
Dị mậu sự kham kỳ.
Giải nhĩa đen
Lòng hiếu đễ do trời phú tính cho,
Đứa trẻ con lên 6 tuổi trong thế gian này,
Giấu quít vào trong tay áo,
Đem về biếu mẹ cũng đáng lấy làm lạ.
Dịch nôm
Cho hay phú giữ thiên chân,
Lên sáu tuổi, biết hiếu thân mới kỳ,
Quít ngon mấy quả giấu đi,
Đem về biếu mẹ, những thì ước-ao.

14.- Giang Cách
Giang Cách sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha từ lúc bé, thờ mẹ rất hiếu, nhà nghèo, gặp buổi loạn-lạc, cõng mẹ đi lánh nạn, giữa đường gặp bọn giặc toan bắt ông đi, Ông khóc van với giặc nói là ông còn mẹ già, chỉ có 2 mẹ con nương-tựa nhau, nay bị bắt đi, thì không có ai nuôi mẹ già. Bọn giặc nghĩ thương tình, tha không bắt ông đi nữa, Ông cõng mẹ chạy về Hạ-bì, rồi ông cố sức làm thuê làm mướn, cũng nuôi mẹ được no đủ qua cơn loạn-lạc.
Thơ
Phụ mẫu đào nguy gian,
Trung đồ tặc phạm tần,
Ai cầu câu hoạch miễu,
Dung lực dĩ cung thân.
Giải nghĩa đen
Cõng mẹ đi tránh nạn,
Giữa đường gặp giặc bắt luôn luôn,
Kêu van đều được tha,
Cố sức làm thuê để nuôi mẹ.
Dịch nôm
Tránh nàn cõng mẹ gian-truân,
Giũa đường gặp giặc toan phần bắt đi,
Giãi tình van lạy nằn-nì,
Thoát vòng loạn-lạc, tới khi yên-lành.

15.- Hoàng Hương
Hoàng Hương sinh vào đời Đông-Hán, năm lên chín tuổi mẹ chết, thương khóc thảm-thiết, trong làng ai cũng khen là người có hiếu. Ở với cha, sớm khuya hầu-hạ, không lúc nào rời, mùa đông thì nằm ủ vào chăn-chiếu của cha để lấy hơi nóng của mình vào chăn-chiếu cho cha khỏi lạnh, mùa hè thì lấy quạt quạt màn gối của cha cho hết hơi nóng, vì thế cha lúc nào cũng được vui-vẻ, quanh năm không biết có mùa đông mùa hè. Quan thái-thú quận ấy thấy Hương là người hiếu-thảo, làm sớ tâu lên vua Hán ban cho Hương tấm biển chữ vàng là người con hiếu-hạnh.
Thơ
Đông nhật ôn khâm noãn,
Viên thiên phiến chẩm lương,
Nhi đồng tri tử chức,
Thiên cổ nhất Hoàng Hương.
Giải nghĩa đen
Mùa đông thì ủ cho ấm chăn,
Mùa nực thì quạt cho mát gối,
Trẻ thơ đã biết đạo làm con,
Nghìn xưa chỉ có một Hoàng Hương mà thôi.
Dịch nôm
Đông thì ủ ấm chiếu-chăn,
Hè thì quạt mát mọi phần nồng-oi,
Trẻ thơ đã biết hiếu rồi,
Nghìn thu chỉ có một người không hai.

16.- Vương Thôi
Vương Thôi người nước Ngụy (đời Tam-quốc) cha ông làm quan triều Ngụy, sau Tây-Tấn diệt Ngụy, thống nhất thiên-hạ, cha ông bị Tây-Tấn giết hại, ông thương xót quá, phục ở bên mộ mà khóc mãi, đến nỗi nước mắt của ông chảy ra thấm xuống gốc cây trắc bên mồ tươi lại. Cả đời ông không bao giờ ngồi ngảnh mặt về hướng tây (vì Tây-Tấn ở về phương tây ), để tỏ ý ông không làm tôi nhà Tây-Tấn. Mẹ ông lúc sinh thời hay sợ sấm, nên khi mẹ ông chết rồi, hễ khi nào mưa có sấm, ông lại ra áp mồ và khấn rằng: " có con ở đây rồi", để cho vong hồn mẹ khỏi sợ. Ông là người tài giỏi, vua nhà Tây-Tấn thường mời ra làm quan, ông nhất định không chịu ra, ở nhà mở trường dạy học, mỗi khi ông giảng sách cho học-trò, đến thiên Lục-nga trong Kinh Thi có câu rằng : phụ hề sinh ngã thì ông lại thương cha chảy nước mắt khóc. Vì thế, học-trò cũng cảm-động, bỏ thiên Lục-Nga không dám đọc đến nữa,
Thơ
Từ mẫu phạ văn lôi,
Băng hồn túc dạ đài,
Át hương thời nhất chấn,
Đáo mộ nhiễu thiên hồi,
Giải nghĩa đen
Mẹ hiền sợ nghe sấm
Hồn thơm nằm dưới suối vàng,
Khi thấy có tiếng sấm động,
Đến mồ mẹ di quanh nghìn lần.
Dịch nôm
Mẹ xưa tính sợ sấm vang,
Hồn thơm ở dưuới suối vàng những lo.
Mỗi khi mưa gió sấm to,
Thân ra ấp mộ quanh-co nghìn vàng

17.- Ngô Mãnh
Ngô Mãnh sinh vào đời nhà Tấn, lên 8 tuổi, thờ cha mẹ rất hiếu, nhà nghèo, mùa hè nhiều muỗi, không có tiền mua màn, ông sợ cha mẹ bị muỗi đốt không ngủ được, ông cởi trần nằm cho muỗi đốt, không dám xua, sợ rằng nếu mình xua đi thì muỗi lại đến đốt cha mẹ chăng ?
Thơ
Hạ dạ vô văn trướng,
Văn đa bất cảm huy,
Tứ cừ bão cao huyết,
Miễn sử nhập thân vi.
Giải nghĩa đen
Đêm mùa hè không có màn,
Muỗi nhiều không dám xua,
Cho nó đốt no máu của mình,
Để nó khỏi đến chỗ cha mẹ nằm.
Dịch nôm
Đêm hè lắm muỗi không màn,
Tha hồ muỗi đến hàng đàn vo ve,
Trần mình cho muỗi no-nê,
Hai thân được ổn giấc hòe là hơn.

18.- Vương Tường
Vương Tường sinh vào đời nhà Tấn, mẹ chết sớm, ở với cha, bị mẹ kế cay nghiệt, ngày thường xui-giục, làm cho cha ông ghét bỏ ông, nhưng ông vẫn dốc lòng hiếu-thảo với cha và mẹ kế. Mùa đông nước đóng váng, mẹ kế muốn ăn cá tươi, ông cởi trần nằm trên váng nước, để tìm cá, bỗng tự nhiên váng nước nứt đôi ra, có hai con cá chép nhảy lên, ông đem về cho mẹ kế xơi. Thấy ông hiếu-thảo như thế, sau cha và mẹ kế ông cảm-động, lại yêu-quý ông lắm.
Thơ
Kế mẫu nhân-gian hữu
Vương Tường thiên-hạ vô,
Chí kim hà thượng thủy,
Nhất phiến ngọa băng vô.
Giải nghĩa đen
Mẹ kế thì nhân-gian thường có.
Hiếu như Vương Tường thì thiên-hạ không có ai,
Đến bây giờ ở trên sông
Chả có ai nằm trần mình trên váng nước cả.
Dịch nôm
Nhân-gian mẹ kế là thường,
Lòng con hiếu tựa Vương Tường có đâu !
Gẫm xem từ đấy về sau,
Nằm trên váng nước sâu mấy người.

19.- Dương Hương
Dương Hương sinh vào đời nhà Tấn, mới 14 tuổi, tính rất hiếu, cha đi đâu cũng theo đi hầu. Có một hôm, hai cha con cùng đi thăm ruộng đường xa, giữa đường gặp con hổ nhảy sổ đến định vồ cha ông, ông tay không, quyết xông vào dánh nhau với hổ, hổ phải bỏ chạy, cha con đều được vô sự cả.
Thơ
Thâm sơn phùng bạch ngạch,
Nỗ lực bác tinh phong,
Phụ tử câu vô dang,
Thoát ly hổ khẩu trung.
Giải nghĩa đen
Chốn rừng sâu gặp con hổ trắng má,
Cố sức đánh đuổi giống hôi-tanh,
Cha con đều vô sự cả,
Khỏi được tai-nạn bị hổ ăn thịt.
Dịch nôm
Giữa rừng gặp cọp tay không,
Dù rằng thú dữ quyết xông đánh liền,
Cha con đều được bình-yên,
Miệng hầm đã thoát đoàn viên cùng về.

20.- Mạnh Tông
Mạnh Tông người ở Giang-hạ, về đời Tam-quốc, mồ côi cha, ở với mẹ, tính rất hiếu. Một hôm mẹ bị ốm, thèm ăn canh măng, nhưng vì khi ấy đương mùa đông, khó tìm được măng, ông lần vào rừng tre, một mình ngồi khóc, bỗng chốc có mấy giò măng mọc ở dưới đất lên, ông đem về nấu canh cho mẹ xơi, rồi mẹ khỏi ốm.
Thơ
Lệ khấp sóc phong hàn,
Tiêu tiêu trúc sổ can,
Tu du đông duẩn xuất,
Thiên ý báo bình an,
Giải nghĩa đen
Ngồi khóc trong khi gió bấc rét nặng.
Lèo tèo có mấy cây tre,
Phút chốc măng mùa đông mọc ra.
Ý trời cho mẹ được khỏi bệnh.
Dịch nôm
Mùa đông gió bấc lạnh lùng,
Một mình sùi-sụt trong vùng rừng tre,
Bỗng đâu măng mọc đem về,
Mẹ xơi, bệnh đã mọi bề tiêu-tan

21.- Sưu Kim Lâu
Kim Lâu người nước Tề, tính rất hiếu, được bổ làm thái-thú ở quận Bình-lăng, đến nhận chức chưa dược 10 hôm, bỗng tự nhiên thấy tâm thần bàng-hoàng, bồ hôi chảy ra như tắm, ông biết là ở nhà có việc chẳng lành, bèn từ chức về quê ; khi về đến nhàthì cha bị ốm đã 2 ngày, ông thấy thầy thuốc nói rằng: "những người ốm mà phân đắng thì dễ chữa, không dáng lo ngại, người nào ốm mà phân ngọt, ông lấu làm lo-ngại, cứ đêm đêm 3 lần đốt hương hướng về sao Bắc-đẩu mà khấn, xin chết thay cho cha. Sau nằm thấy có người cầm một thẻ vàng có mấy chữ: "sắc trời cho bình-an". Ngày hôm sau cha ông được qua khỏi.
Thơ
Đào huyện vị tuần nhật,
Xuân-đình tao tật thâm,
Nguyện tương thân đại tử,
Thường phẩn khởi ưu tâm.
Giải nghĩa đen
Làm quan đến nhậm chức chưa được 10 ngày,
Cha ở nhà bị đau nặng.
Xin lấy mình chết thay cho cha,
Nếm phân sinh lòng lo-ngại.
Dịch nôm
Tới huyện nha, chưa bao lâu,
Xuân-đường thoát bị bệnh đau ở nhà,
Khấn trời xin chết thay cha,
Nếm phân thấy ngọt biết là bệnh nguy.

22.- Thôi phụ Đường-thị
Đường-thị là vợ một nhà họ Thôi, thờ mẹ chồng rất hiếu, mẹ chồng tuổi già răng móm, không nhai được cơm . Đương-thị cứ hàng ngày tắm-rửa sạch-sẽ, rồi đến cho mẹ chồng bú; hằng mấy năm mẹ chồng không phải ăn cơm mà cũng no Cảm ơn ấy mẹ chồng không biết lấy gì đáp lại, khi mẹ chồng sắp chết, có khấn nguyện với trời xin cho con cháu dâu nhà họ Thôi ngày sau, ai ai cũng được hiếu-thảo như Đường-thị cả. Rồi sau các con-cháu dâu nhà họ Thôi bắt chước nhau người nào cũng hiếu-thuận. Vì thế, nhà họ Thôi được hưng-thịnh.
Thơ
Hiếu báo Thôi gia phụ,
Nhũ cơ thân quán sơ,
Thử ân vô dĩ báo,
Nguyện đắc tử tôn như.
Giải nghĩa đen
Vợ họ Thôi ở có hiếu với mẹ chồng.
Hành ngày tắm rửa rồi cho mẹ chồng bú,
Ơn ấy mẹ chồng không lấy gì báo lại,
Khấn trời mong cho con cháu dâu của Đường-thị lại hiếu-thảo với Đường-thị.
Dịch nôm
Dâu họ Thôi hiếu-thảo thay,
Cho mẹ chồng bú, hằng ngày tắm lau,
Giả ơn khấn nghuyện về sau,
Dâu nào cũng hiếu như dâu họ Đường .

23.- Chu Thọ Xương
Chu thọ Xương sinh vào đời nhà họ Tống, ông là con vợ thứ, năm ông lên 7 tuổi, thì mẹ đích ông đuổi mẹ ông đi, sau ông được làm quan, nghĩ đến công mẹ đẻ khó nhọc, nay mình được sung-sướng,
để mẹ đẻ lưu-lạc trong lòng không đang. Ông quyết từ quan đi tìm mẹ đẻ.Trước khi đi, ông có thề rằng: "nếu không tìm thấy mẹ, thì chết cũng đành". Sau ngẫu nhiên đi đến Đồng-châu thì mẹ con gặp nhau. Mẹ con xa cách nhau đã 50 năm nay lại được gặp nhau, rất là vui-vẻ, ông bèn đem mẹ về phụng-dưỡng.
Thơ
Thất tuế sinh ly mẫu,
Sâm Thương ngũ thập niên,
Nhất triêu tương kiến diện,
Hỷ khí đông Hoàng Thiên.
Giải nghĩa đen
Lên 7 tuổi bị lìa xa mẹ đẻ,
Như sao hôm sao mai đã 50 năm trời,
Một sớm được thấy mặt nhau,
Vui-mừng cảm-động đến trời.
Dịch nôm
Mẹ con chia rẽ đôi nơi,
Sâm Thương xa cách năm-mươi năm tròn,
Bỗng đâu mẹ lại gặp con,
Mừng này ai biết hãy còn hôm nay.

24.- Hoàng Đình Kiên
Hoàng đình Kiên sinh vào đời nhà Đường, làm quan đến chức Thái-sử (quan coi việc chép sử) thờ cha mẹ rất hiếu, tuy mình làm quan sang, có nhiều đầy-tớ hầu-hạ nhưng các đồ của cha mẹ dùng để đại tiểu tiện, dù dơ-bẩn đến đâu, ông cũng tự tay rửa lấy, không sai người nhà lau rửa bao giờ cả.
Thơ
Quý hiển văn thiên-hạ,
Bình sinh hiếu sự thân,
Thân thân địch niệu khí,
Bất dụng hoán gia-nhân.
Giải nghĩa đen
Giàu-sang thiên-hạ ai cũng biết tiếng,
Ngày thường thờ cha mẹ rất hiếu,
Chính tay mình rửa đồ để đại tiểu tiện của cha mẹ,
Không sai người nhà làm việc ấy bao giờ cả.
Dịch nôm
Dù mình chức trọng quyền cao,
Tấm lòng hiếu-thảo khi nào dám sai,
Đồ thân dùng dẫu bẩn hôi,
Tay rửa lấy, chẳng sai ai bao giờ.

|