Người tai mắt: Làm người phải tai nghe tinh, mắt trông sáng.
Gương treo đất nghĩa trời kinh: Bởi câu : Hiếu gỉa thiên chi kinh dã, địa chi nghĩa dã ở sách Hiếu-kính nghĩa là : hiếu là đạo thường của trời, lẽ phải của đất.
trăm nết đều nên: Bởi câu : Hiếu vi bách hạnh chi tiên : hiếi là đầu trăm nết. Và câu : Nhất hiếu lập nhi vạn thiên tông : đã biết hiếu thì muôn điều hay bởi đấy mà ra.
Thảo: tức là hiếu.
muôn thu: Mùa thu tức là năm. Muôn thu : muôn năm.
vua Thuấn: Tên là Thuấn, làm vua nhà Đại-Ngu bên Tàu ngày xưa
tiềm long: Bởi chữ Tiềm-long trong quẻ Kiền. Kinh Dịch : con rồng còn ẩn nấp dưới vực, ý nói chưa gặp thời.
Tuổi xanh:lúc còn ít tuổi, tuổi còn xanh.
từ-vi: Từ là lành , hiền ; vi là cái màn che trong nhà nói bóng là bà mẹ . Câu này nói bóng là mẹ chết sớm.
Cổ Tẩu: Cổ Tẩu : mù lòa, vì cha sinh ra vua Thuấn không biết kẻ hay người dở, có mắt cũng như mù, cho nên người đời bấy giờ tặng cho cái tên là Cổ Tẩu.
[Back to the top]
Mẹ ghẻ: tức là mẹ kế
khe-khắt: Ác nghiệt.
Em Tượng: Em cùng cha khác mẹ với vua Thuấn.
thuận cả vừa ba: Cha, mẹ và em là ba người.
Xót tình khóc tối, kêu mai: Bởi câu chữ Hán trong sách Mạnh-tử : Thuấn vãng vu điền, hào khắp vu mân thiên : vua Thuấn mỗi khi ra cày ruộng, lại kêu khóc với trời, cầu cho cha mẹ kế đổi tâm lại.
Xui lòng ghen-ghét hóa vui dần dần: Lòng cha và mẹ kế ghét vua Thuấn, thì dần dần cũng hồi tâm lại.
non Lịch: núi Lịch-sơn
Cỏ, chim vì nhặt, ruộng, voi vì cày: Bởi câu chữ Hán : Tượng canh điểu vân : voi cày ruộng chim nhặt cỏ, ý nói lòng hiếu cảm cả đến loài chim muông là loài vô tri-thức.
hữu: là hoà-thuận và yêu-dấu em.
bệ thánh: Chỗ vua ngồi, đến tai vua Nghiêu biết là người hiếu hữu.
[Back to the top]
Trưng-dụng: gọi ra mà dùng, trao chính-quyền cho
xiêm áo thảnh-thơi: Bở câu : Thuỳ thường nhi thiên-hạ tri : mặc áo xiêm ngồi dấy mà thiên hạ thịnh trị.
Hán-đại: đời nhà Hán
Phiên-vương: một chức vua Chư-hầu. Văn-đế trước được anh là Huệ-đế phong làm vương ở đất Đại nên gọi là Phiên-vương
Bạc-hậu: mẹ đẻ vua VVăn-đế, là vợ thứ của vua Hán cao-tổ
lễ thường chẳng sai: tức là Thần định hôn tỉnh : sáng viếng tối thăm, lễ thường của đạo làm con.
ngại gió kinh mưa: Ốm đau
Mắt chong bóng dám sai giấc ngủ: thức cả đêm không dám ngủ
Áo luôn mình dám sổ đai lưng: Cứ đóng mũ áo đai cân đứng hầu mẹ ốm không dám cởi áo bỏ đai
Có tường trong miệng, mới dâng dưới màn: người đưa thuốc đến thì Văn-đế phải nếm trước xem có thuốc độc không đã, r62i mới dám dâng hầu mẹ uống. Theo đúng câu " thân ẩm dược tử tiên thường chi"
[Back to the top]
nhân-hiếu: Nhân : có lòng nhân-từ đối với nhân-dân. Hiếu : có lòng hiếu với mẹ.
thuần-lương: thuần-hậu, lương-thiện
lê-nguyên: dân đen, dân-chúng, ý nói các dân chúng trong thiên-hạ lúc bấy giờ ai cũng hóa ra thuần hậu lương thiện cả
kiền-khôn: Kiền : trời , Khôn : đất, ý nói vua Văn-đế ở ngôi hơn 20 năm
Tam-Đại: tức nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu
Thành, Khang: Thành là vua Thành-vươnfg , Khang là vua Khang-vương nhà Chu , hai ông này làm vua trong nước được thịnh-trị cả. Ý nói nhà Hán vào sau nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu, mà vua Văn-đế làm vua thiên-hạ được thịnh-trị như đời vua Thành vương và Khang vương ngày trước
Chữ hiếu đành đá tạc vàng in: Lòng hiếu của vua Thuấn và vua Văn-đế đáng làm gương làm bia cho mọi người
sĩ, thứ, đấng hiền: Sĩ người làm quan . Thứ người dân thường, Hiền các bậc hiền triết
Chu-mạt: đời cuối nhà Chu.
chí thành: rất thành thực
[Back to the top]
Cho ai, vâng cứ đinh-ninh chẳng rời: Bữa cơm cha mẹ ăn xong, còn thừa món ăn gì, ông Tăng-tử hỏi cha mẹ địng để cho ai, thì cứ tuân theo ý của cha mẹ mà đem cho người ấy.
bần-bạc: nghèo túng
Quãng mù xanh: chỗ rừng xa tít mù xanh
Mẹ ngồi tựa bóng cửa sau: bởi câu : ỷ tư nhi vọng trong truyện Vương tôn giả : tựa cửa mà mong : khi nào con đi vắng, thì mẹ ngồi tựa cửa mong con về
Rối trong dạ nhân khi cùng-túng: Vì con đi kiếm củi rừng xa vắng, mà có khách đến chơi, không biết làm thế nào cho con về ngay được.
Quặn đau khúc ruột, bước dồn gót chân: Vội vàng đi mau về nhà
từ, hiếu, tương-quan: lòng nhân-từ của mẹ và lòng hiếu-thảo của con có liên-quan với nhau
Non Đồng khi lở, khôn hàn tiếng chuông: Bởi câu : Đồng sơn tây khuynh, Lạc chung đồng ứng : núi Đồng ở phương tây bị đổ thì cái chuông ở đất Lạc-dương về phương đông tự-nhiên có tiếng vang theo ; ví với tình mẹ (núi Đồng) con (cái chuông) có liên quan cảm-ứng với nhau, như Tăng-tử ở trong rừng, ở nhà mẹ cắn ngón tay, mà Tăng-tử thấy đau ruột.
nhà huyên: tức là huyên đường . Huyên tức là vong ưu thảo là cỏ quên lo, hay là nghi nam thảo là cỏ đẻ con trai. Ngày xưa chỗ đằng sau buồng người mẹ ở hay trồng cỏ huyên, để cho quên sự lo buồn và hay đẻ con trai, cho nên sau này thường lấy cỏ huyên để nói bóng là mệ.
quạnh-quẽ: đây ý nói mẹ đẻ ra Mẫn-tử chết đã lâu.
[Back to the top]
sớm viếng, khuya hầu: bởi câu : thần định hôn tỉnh
mẹ sau nồng-nàn: mẹ sau tức là mẹ kế (người vợ kế của cha) nồng -nàn : cay nghiệt.
đông-hàn lạnh-lẽo: đông hàn : mùa đông rét
kép áo: mặc nhiều áo.
Hoa lau: lấy hoa lau cho vào trong áo giả làm bông.
một thân: một mình Mẫn-tử
dạo: đi dạo chơi
theo chân xe đẩy: đẩy xe cho cha.
Nghiến răng rắp : ý nói là tức lắm
cắt đứt giây xướng tuỳ: bởi câu phu xướng phụ tùy : chồng xướng xuất ra việc gì, vợ tuân theo mà làm, tức là đạo vợ chồng, đây ý nói là người cha tức lắm muốn bỏ người vợ kế ấy đi
[Back to the top]
gửi: tức là thưa.
Mẹ còn chịu một thân đơn: mẫu tại nhất tử hàn
Mẹ đi, luống để cơ-hàn cả ba: m64u khứ tam tử đan (lời Mẫn-tử xin với cha)
Mẹ nghe lời : biết chuyện như thế
hiếu cảm nên từ: lòng hiếu của Mẫn-tử làm cho cảm động người mẹ kế cay-nghiệt hóa ra nhân từ.
Thấm lâu như đá cũng rừ: trơ như đá mà nước chảy mãi cũng phải mòn đi.