1.- Trên am thong-thả sách, cầm,
Nhàn nương án ngọc, buồn ngâm quyển vàng.
Thấy trong triều Tống Tĩnh-khang,
Một chàng Hòa-quận, một chàng Đàm-chu,
Bảng vàng, bia đá nghìn thu,
Phan, Trần hai họ,cửa nho dõi truyền.
Kể từ đèn sách thiếu-niên,
Một song tình nặng, một thuyền nghĩa sâu.
Tới tuần hội cả đua nhau,
10.- Bút-nghiên phỉ chí, cung dâu bằng nguyền.
Xem hoa rõ nẻo hồi triên,
Gió đưa hương dạ, sấm rền tiếng xa.
Ơn trên mưa tưới, móc sa,
Cùng làm Phủ-doãn một toà hiển-vinh.
Niềm công chính, dạ trung-trinh,
Nhân-dân sao phúc, triều-đình cột cao.
Ngay tin trời có phụ nào,
Tốt cung quan lộc, vượng hào thê-nhi.
Ứng điềm xà hủy, hùng bi,
20.- Hai nhà chính-thất một kỳ thọ-thai.
Cùng nhau mở tiệc vầy vui,
Huệ lan mừng mặt, trúc mai khoe mình.
Tưng-bừng nhịp sáo, nhịp sênh,
Điệu thông cao thấp, chén quỳnh đầy vơi.
Trỏ thề trên thẳm dưới khơi,
Cùng nhau chỉ dạ định lời thông gia.
Hai ta đồng học đồng khoa,
Đồng niên đồng cán một nhà đồng thân.
Đổi trao chỉ Tấn tơ Tần,
30.- Họ Phan thì quạt, họ Trần thì trâm.
Mai này dành để giao cầm,
Kẻo quên ước cũ kẻo lầm duyên xưa.
Bỗng may thay sự tình-cờ,
Khéo linh linh miệng, khéo như như lòng.
Thẳm ngày khuất tháng vừa đông,
Phan phu-nhân mới khai giòng nước hoa.
Vườn xuân phơi-phới mưa sa,
Quế non Yên đã trổ ra một cành.
Sinh ra nam-tử tốt lành,
40.- Hai vai chĩnh-chện, ba đình nở-nang,
Đành thai phỉ chí bồng tang,
Đặt cho Tất-Chánh rõ ràng là tên.
Đông qua xuân thoắt báo tin,
Trần phu-nhân mới hé then động đào.
Một nàng tiên-nữ xinh sao !
M ày nghênh bán nguyệt miệng chào trăm hoa.
Miả chiều cung quế hằng-nga,
Trần-công mới đặt tên là Kiều-Liên.
Lửa hương đành để bén duyên,
50.- Lòng trời chiều cả hai bên ước cầu.
Tin đi mối lại cùng nhau,
Kẻ nâng-niu ngọc, người trau-chuốt ngà.
Lần lần hè lại thu qua,
Hai ông thắm-thoắt tuổi đà cao niên.
Tạ triều một thủ thi tiên,
Đem nhau xe hạc về miền hương quan.
Chia tay nam bắc băng ngàn,
Tới quê nhà đã hầu tàn ba trăng.
Đường đi khuất nẻo khơi chừng,
Tuyết sương mấy dặm, suối rừng bao nhiêu.
Dễ mà tin-tức dập-dìu,
Thì đem lòng thắm phú liều trời xanh.
Hãy nuôi con đến trưởng thành,
Sẵn còn trăm nghĩa, quạt tình chẳng quên.
Tơ hồng, lá thắm là duyên,
Dầu bao giờ gặp cũng nên bấy giờ.
Phan thì về chốn lầu thơ,
Khuyên con dòng-dã sớm trưa sách đèn.
Ôn đặt gối, Đổng vây màn
70.- Sớm nhuần kinh-sử, tối bàn văn-chương.
Trần thì về chốn phòng hương,
Dạy con canh-cửi việc thường nữ-công.
Hoa dưới trướng, gấm trên khung,
Gồm hay thi-lễ, lảu-thông cầm-kỳ.
Những mong khuya sớm kịp thì,
Hai nhà con đã đến kỳ xuân-xanh.
Phan-công mới dạy Phan-sinh,
Rằng: "Nhà ta nghiệp học-hành xưa nay.
"Bây giờ cha tuổi-tác này,
80.- "Mong con gặp hội rồng mây kịp người.
"Chớ tham tửu sắc chơi bời,
"Lụy mình vả lại thế cười người chê.
"Rày nghe thi tuyển đến kỳ,
"Bút nghiên dòng-dả vào thi họa là.
"Gặp thì thu nguyệt, xuân hoa,
"Làm sao cho trọn quyết khoa thì làm.
"Bõ công luyện-tập mới cam,
"Đừng nghe anh én, chớ nhàm nước mây,
"Nhân-duyên đã chiếc trâm này,
90.- "Của Trần-công để cho mầy đính hôn.
"Tuy rằng cách trở nước non,
"Hãy còn trăng bạc, hãy còn trời xanh.
"Đừng như Ngô-tướng, Từ-khanh.
"Quên bài thuốc dạy, phụ manh áo nguyền.
"Hãy cho công-nghiệp vẹn tuyền,
"Hóa rồng rồi sẽ rước tiên cũng vừa."
Nghe lời"phụ-huấn sau xưa,
Phan-sinh từ tạ bấy giờ bước ra.
am: nhà nhỏ lợp tranh. Đây nói về nơi đọc sách
sách, cầm: Có bản chép sắt cầm; nhưng có lẽ là sách cầm, bởi chữ cầm thư : đàn và sách, thú vui của các văn-nhân. Còn sắt cầm trong câu "thế tử hảo hợp như cổ sắt cầm" thì lại khác
Tĩnh-khang: niên-hiệu vua Tống Khâm-Tôn bên Tàu, vào khoảng từ năm 1126 trở xuống.
Hòa-quận, Đàm-chu : Hòa-quận, Đàm-chu : hai huyện bên Tàu, quê họ Phan và họ Trần.
Bảng vàng, bia đá: bởi chữ hoàng bảng thạch bi nói về người thi đỗ được yết họ tên trên bảng vàng và khắc vào bia đá.
Phan, Trần: hai họ tức hai vai chính trong truyện này.
cửa nho: bởi chữ nho môn : cửa nhà nho, nhà học trò.
thiếu-niên: tuổi trẻ.
Một song tình nặng, một thuyền nghĩa sâu.: Một song (đồng song) một thuyền (đồng thuyền), câu này nói tình nghĩa bạn-hữu với nhau rất là nặng-nề và sâu-xa.
cung dâu: Cung dâu do chữ tang hồ : cái cung bằng gỗ dâu. Trong kinh Lễ :Nhà vua sinh thế-tử thì treo cái cung bằng gỗ dâu, cái tên bằng cỏ bồng ra cửa, để tượng trưng con trai chí ở bốn phương, như cung tên bắn tung ra bốn phương trời đất vậy. Sau người ta quen dùng chữ tang hồ bồng thỉ để chỉ chung cả bọn con trai. Cũng có khi nói tắt là tang bồng hay bồng tang cũng thế,
Xem hoa rõ nẻo hồi triên: Xem hoa bởi chữ thám hoa, hồi triên nghĩa là quay roi ngựa. Câu này ý nói thi đỗ thám hoa rồi quay ngựa về vinh qui. Chữ "triên" là roi cũng có âm là "tiên" nên có bản chép là "hồi tiên"
Ơn trên mưa tưới, móc sa: câu này bởi chữ vũ lộ mong ân.
Phủ-doãn: là một chức quan cai-trị thành-phố nơi kinh-đô, ví như chức Phủ-doãn Thừa-Thiên dưới triều nhà Nguyễn.
sao phúc, triều-đình cột cao:Sao phúc bởi chữ phúc tinh, cột cao, bởi chữ chỉ trụ, ý nói người có danh vọng cho dân nước nương nhờ.
Ngay tin: bởi chữ trung tin, ý nói người trung tín ( ngay tin ) thì trời không phụ, cũng như câu "hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân" - trời cao không phụ người tốt bụng. - Có bản chép là nghe tin có lẽ sai.
Tốt cung quan lộc, vượng hào thê-nhi: Cung quan-lộc, cung thê (vợ) và cung nhi (con) là 3 cung trong 12 cung trong số Tử-vi.
Ứng điềm xà hủy, hùng bi:Kinh Thi:
Duy hủy duy xà nữ-tử chi tường, duy hùng duy bi, nam-tử chi tường:
Nằm mơ thấy loài rắn là điềm sinh con gái, thấy loài gấu là điềm sinh con trai.
chính-thất: vợ cả.
Điệu thông: do chữ tùng điệu : tiếng thông reo nghe ra có vần có điệu. Đây là chỉ về âm-nhạc. Có bản chép là rượu thông, nhưng rượu sao lại cao thấp ?
chén quỳnh: do chữ quỳnh bôi: chén ngọc.
Cùng nhau chỉ dạ định lời thông gia: Câu này dịch theo chữ chỉ phúc đính hôn.
chỉ Tấn tơ Tần: Tấn và Tần là hai nước ở về đời Xuân-thu chiến quốc bên Tàu, hai nước này đời đời kết hôn nhân, nên người ta quen dùng tiếng Tấn Tần để chỉ chỗ thông-gia hay là nói đảo lại Tần Tấn cũng thế.
Quế non Yên: Đậu Vũ-Xương đời Tống, biệt hiệu là Yên-sơn - núi Yên - sinh 5 con trai vì biết dạy con theo nghĩa phương, sau đều hiển đạt, người ta ví 5 người con của Yên-sơn quí như 5 chồi quế. Đây mượn chữ "quế non Yên" để ví người con trai họ Phan mới sinh.
ba đình: do chữ tam đình. Theo phép xem tướng của nhà tướng-thuật đem thân người và bộ mặt chia ra làm 3 gọi là tam đình. Nói về toàn thể thì phần đầu là thượng đình, phần lưng là trung đình, phần chân là hạ đình. Nói về bộ mặt thì từ đỉnh đầu dến trán là thượng đình, từ sống mũi đến cằm là hạ đình.
Tất-Chánh: nghĩa đen là tất ngay thẳng.
bán nguyệt: nửa mặt trăng, nói lông mày cong cong như hình nửa vành trăng.
trăm hoa: do chữ bách hoa, nói miệng cười tươi như trăm hoa đua nở.
Miả chiều cung quế hằng-nga: mỉa mai : gần bằng. Cung quế hằng nga là Hằng-nga, trong cung trăng (cung quế) nói người đẹp.
Kiều-Liên: Nghĩa đen là sen tươi đẹp.
Kẻ nâng-niu ngọc, người trau-chuốt ngà.: Câu này nói hai nhà đều quí báu vật đinh-hôn tức là trâm ngọc, quạt ngà.
thi tiên: giấy viết thư. Hai ông về hưu trí, viết thư để lại tạ ơn Triều-đình, tức là thư lưu giản (để lại kính chào) mà ta quen dùng khi các viên chức về hưu hay thuyên đổi đi nơi khác.
xe hạc: bởi chữ hạc giá, hạc là loài chim sống rất lâu, người ta thường dùng chữ hạc để nói về bậc già cả như hạc linh (tuổi hạc), hạc phát (tóc hạc) v.v...
hương quan: cửa làng, nói về nơi quê nhà.
Tới quê nhà đã hầu tàn ba trăng: Câu này ý nói về đến nhà thì đã gần hết 3 tháng .
Sẵn còn trăm nghĩa, quạt tình chẳng quên : Từ câu "đường đi khuất nẻo..." trở xuống đến hết câu này, ý nói tuy đường xa cách, chưa dễ thông tin-tức luôn, đành cứ phó liều, nhưng cứ việc nuôi con đến khi khôn lớn, đã sẵn có trâm, quạt làm tin, thì tình nghĩa quên làm sao được.
Tơ hồng: do chữ hồng ty, lấy tích Trương-gia Chính, Tể-tướng nhà Đường, có 5 con gái, muốn gả cho Quách-nguyên-Chấn một người, nhưng không biết gả ai. Bèn bảo 5 con gái đứng nấp trong bình phong, mỗi người cầm một sợi tơ xuyên qua khe cửa. Quách đứng ngoài rút được sợi tơ của ai thì gả người ấy. Kết quả Quách rút được sợi tơ đỏ trong tay người con gái thứ ba, có nhan sắc hơn cả.
lá thắm: do chữ hồng diệp. Lấy tích Vu-Hựu đời nhà Đường, nhặt được chiếc lá ở trong ngòi nhà vua có đề bài thơ. Vu Hựu cũng đề thơ vào một chiếc lá thả xuống ngòi cho trôi vào trong cung. Cung nữ họ Hàn nhặt được. Sau nhà vua thải các cung nữ, tình cờ Vu-Hựu lấy họ Hàn, cùng đem chiếc lá có thơ đề vẫn giữ, cho nhau xem, mới biết đoạn nhân duyên do chiếc lá kia làm mối. Họ Hàn có câu thơ rằng : "Phương tri hồng diệp thị lương môi" ( mới biết lá thắm là người mối tốt ).
lầu thơ: bởi chữ thư lâu
sách đèn: có bản chép luận bàn, có bản chép học-hành, nhưng học-hành thì không có vần, nên tạm để sách đèn.
Ôn đặt gối: Tư-Mã Ôn-Công đời Tống rất chăm học, có khi đọc sách thâu đêm, trằn-trọc trên gối mãi không ngủ.
Đổng vây màn: Đổng-trọng-Thư đời Hán chăm học, buông màn đọc sách, luôn ba năm không ngó đến vườn.
hội rồng mây: bởi chữ long vân khánh hội nghĩa là rồng mây gặp-gỡ, nói bóng, vua sáng tôi hiền gặp nhau.
thu nguyệt: trăng mùa thu, kỳ thi hương.
xuân hoa: hoa mùa xuân, kỳ thi hội.
quyết khoa: ý nói đi thi khoa ấy quyết lấy đỗ.
Hãy còn trăng bạc, hãy còn trời xanh: trăng bạc trời xanh, bởi chữ thanh thiên bạch nhật. Câu này ý nói tuy hai nhà ở xa cách nhau nhưng mối nhân duyên đã đính uớc rõ ràng, có trời xanh trăng bạc chứng minh.
Ngô-tướng, Từ-khanh: hai tích này chúng tôi còn đương khảo-cứu, đợi xin tục bản. Trong khi chờ đợi, mong thức giả chỉ-giáo cho, chúng tôi cảm tạ lắm.
Hóa rồng rồi sẽ rước tiên cũng vừa: ý nói thi đỗ rồi sẽ cưới vợ.
phụ-huấn: lời cha dạy.