bát-trân : tám thức ăn quí-báu ngon lành. Theo Chu-lễ thì 8 thức ăn là : bột ngào, bánh mỡ, lợn quay, dê thui, chả giả, thịt ướp, nem luộc và gan nướng.
bếp trời : bởi chữ thiên trù, tên một ngôi sao coi việc bếp cho nhà trời.
mày liễu mặt hoa : có bản chép : Rõ-ràng mày liễu mặt hoa.
Đâu mà đến đây : có bản chép : Đào nguyên lạc lối đâu mà tới đây.
Bồ-liễu : một loài cây cỏ mềm yếu. Cố quân Thúc đời Tấn, đồng tuế với vua Giản Văn-đế mà đầu bạc sớm, vua hỏi thì nói : cái tư-chất của loài bồ liễu, hễ thấy mùa thu là rụng- bồ liễu chi tư vọng thu nhi lạc, vì thế người ta quen dùng chữ bồ liễu để ví phái yếu (bạn gái).
thanh-tiêu: mây xanh, bầu trời.
tiên thù : nghĩa đen là nàng tiên đẹp
Giáng Kiều: nghĩa đen là gái đẹp mặc áo mùi.
Hai danh từ trên đây có bả chép là tiên chu và phong kiều có lẽ dịch lầm chữ thù ra chữ chu và chũ giáng ra chữ phong.
tơ trăng: do chữ tơ hồng nguyệt lão dây tơ của bà nguyệt xe duyên vợ chồng.
tiên-quân: chúa tiên.
tác hợp duyên trời: do câu thiên tác chi hợp trong Kinh Thi, nghĩa là trời làm cho kết hợp với nhau. Ý nói nhân-duyên tự trời gây nên.
[Back to the top]
lắm nau: cũng như lắm thay, tiếng đệm, như câu : "làm chi cho bận lòng này lắm thân" trong truyện Kiều. Có bản chép là "lắm nao".
gieo cầu: do tích Hán Vũ-đế kén phò mã, cho công chúa đứng trên lầu gieo quả cầu xuống dưới, ai cướp được thì trúng tuyển. Sau các nhà quyền-quí cũng bắt chước lối ấy để kén rể.
tấm son : tức tấm lòng.
xanh xanh : do chữ thương thương chỉ vào trời xanh.
gieo thoi: có bản chép : gieo cầu.
Mái Tây: do chữ Tây-sương, Thôi Oanh Oanh tư-ước với Trương Quân-Thụy ở mái Tây chùa Phổ-cứu, sau bị Trương Quân-Thuỵ coi rẻ.
hững-hờ: có bản chép :"Vườn xuân luống để yến-oanh cười khờ".
bình trầm: do chữ hương bình ; chén hà do chữ hà bôi.
quỳnh-tương: nước ngọc, nói về thứ rượu quí.
túc trái tiền nhân: nợ cũ duyên xưa.
tương tri: cùng biết nhau.
[Back to the top]
đãi nguyệt: đợi trăng.
đối hoa: ngắm hoa, đối diện với hoa.
thảo am: lều cỏ, nhà tranh.
tường-quang: ánh-sáng tốt lành, bóng hào-quang báo điềm tốt lành.
cố-hữu: bạn cũ.
tân-lang: chàng rể mới.
Nghê-thường thiết tha : Đường-thư : Đường Minh-Hoàng lên chơi nguyệt-điện, thấy các tiên-nữ mặc áo cánh chim (vũ-y), đeo xiêm mùi cầu vồng (nghê-thường), hát bài Tây-thiên điệp-khúc. Trở về chỉ còn nhớ mang-máng, nhằm lúc có Tiết Độ-sứ Tây-lương đem khúc hát Bà-la-mon đến hiến, Minh Hoàng truyền đem sửa-sang nhuận-sắc lại và đổi tên là khúc "Nghê-thường vũ-y".
yến tân: đặt tiệc đãi khách.
hoa-nhan: mặt hoa.
thúy-vũ: lông chim trả, chăn dệt bằng lông chim trả.
[Back to the top]
phù-dung: hoa phù-dung, màn thêu hoa phù-dung .
Rèm tương: cái rèm làm bằng trúc ở sông Tương. Tương truyền hai bà vợ vua Thuấn khóc chồng, vẩy nước mắt vào những khóm trúc, thứ cây sản-xuất ở trên sông Tương, nước mắt đọng giọt, làm cho giống trúc có vằn óng ánh như ngọc, trông rất ngoạn mục, người Tàu quen dùng thứ trúc ấy chế rèm hay mành mành. Kiều có câu : "Mành Tương phất phất gió đàn !"
khắc xuân: câu này bởi câu "Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim" : một khắc đêm xuân giá nghìn vàng.
thiên tải giai kỳ: dịp hẹn tốt, nghìn năm mới có một.
hương bay,: có bản chép : sương bay, e không đúng vì đây là phong, hoa, tuyết , nguyệt.
hoa-quốc: làm vẻ vang đẹp đẽ cho nước, nói về văn-chương.
khuynh thành,: do câu nhất tiếu khuynh nhân thành : một cười làm đổ thành, nói về sắc đẹp.
Cầm, kỳ, thi, tửu, : cầm : đàn, kỳ : cờ, thi: thơ, tửu : rượu. Có bản chép : Cầm, kỳ, thi, họa ; e không đúng vì trên có câu : Bầu tiên chuốc rượu
tần-tảo,: thứ rau ở dưới nước, dùng vào việc cúng tế. Tần-tảo đây trỏ vào người nôi trợ trông coi việc nấu nướng, thờ cúng tổ-tiên.
ty-ca: đàn hát.